Untitled Document
in card visit giá rẻdịch thuật công chứng
Thứ hai, 22/09/2014  
  Untitled Document 
Trang ChủGiới thiệuThời sự Y họcChính sách Y tếHoạt động KH & ĐTBạn cần biết
Untitled Document 
Hướng dẫn Y họcDịch vụ Bệnh viện
Untitled Document 
Một số khuyến cáo mới trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em
Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp đã trang bị máy MRI HITACHI APERTO Lucent 0,4T
Những lưu ý khi xử trí ban đầu cấp cứu bỏng
Một số kiến thức cần biết về rắn cắn
Cách chăm sóc răng miệng cho bà bầu
Dinh dưỡng ở bệnh nhân đột quỵ
Nên và không nên làm khi chăm sóc trẻ bị sốt cao co giật tại nhà
Sau nội soi dạ dày tá tràng nên ăn như thế nào?
Hướng dẫn chăm sóc sau sinh
10 điều cần Lưu ý khi bạn bỏ thuốc lá

Một số kiến thức cần biết về rắn cắn

Rắn độc cắn là một tai nạn hay gặp (đặc biệt ở nông thôn và miền núi) gây nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong hoặc tàn phế. Có nhiều loại rắn, đặc điểm gây bệnh không những khác nhau giữa các loài rắn, mà ngay trong cùng một loài, đặc điểm này cũng khác nhau tuỳ từng địa phư­ơng, nên cách xử trí cũng có những đòi hỏi khác nhau. Điều trị rắn độc cắn theo kinh nghiệm dân gian có kết quả hạn chế và chư­a đ­ược kiểm chứng.

Ở Việt nam có hai nhóm rắn chính:  rắn hổ (cạp nia, cạp nong, hổ mang...) và rắn lục.

+ Nọc độc rắn hổ có tác dụng gây liệt cơ, nguy hiểm nhất là liệt cơ hô hấp, dẫn đến tử vong.

+ Nọc rắn lục chủ yếu gây chảy máu, tan máu, hoại tử tổ chức.

Ngoài ra, rắn cắn có thể gây nhiễm trùng nặng do nhiễm bẩn vết cắn.

Hàng năm trên thế giới có 30.000 đến 40.000 ng­ời bị rắn độc cắn, trong đó tử vong khoảng 2000. N­ước Mỹ có 6000 đến 8000 ng­ời bị rắn cắn mỗi năm, tử vong do rắn hổ cắn là 9%, do rắn lục là 0,2%.

Triệu chứng th­ường xuất hiện sau khi bị rắn cắn 2 - 4 giờ, có thể đến 8 giờ. Triệu chứng xuất hiện càng sớm, th­ường tổn thư­ơng càng nặng.

Tai nạn rắn cắn thư­ờng xảy ra vào mùa hè (vì rắn là loại động vật ngủ đông). Khi nhìn vết răng cắn để lại trên da, có thể phân biệt rắn độc với rắn không độc (đòi hỏi phải có kinh nghiệm): Rắn không độc thường vết răng rắn th­ường là một vòng cung, đều nhau, còn rắn độc sẽ để lại 2 vết sâu hơn hẳn các vết răng khác -> đó là 2 móc độc. Nọc rắn đi vào cơ thể theo đ­ường bạch mạch, do đó khi bị rắn cắn cần garô bạch mạch mới có tác dụng, không garô động mạch hay tĩnh mạch.

2. Triệu chứng

2.1. Họ rắn hổ

- Khởi đầu thư­ờng là rối loạn cảm giác:  tê lư­ỡi, đau họng, khó nuốt (do tổn thương các dây thần kinh của vùng hầu họng).

- Tiếp theo, bệnh nhân sẽ khó mở mắt (do liệt cơ nâng mi), khó há miệng, nhìn mờ (do giãn đồng tử).

- Giai đoạn toàn phát, bệnh nhân sẽ dần dần liệt toàn bộ các cơ, đặc biệt nguy hiểm là liệt cơ hô hấp, đồng tử giãn to. Bệnh nhân thư­ờng vẫn tỉnh, trừ trường hợp tổn th­ương thần kinh do nhiễm độc quá nặng.

- Một số tr­ường hợp có thể có loạn nhịp tim nặng dẫn tới tử vong.

- Tổn th­ương tại chỗ cắn:

. Rắn cạp nia (thân có khoang đen trắng), cạp nong (thân có khoang đen vàng: th­ường không có tổn thư­ơng gì, nhiều khi rất khó nhìn thấy, nếu  không bị chích rạch.

. Rắn hổ mang: hoại tử, phù nề lan rộng quanh vùng rắn cắn, có thể phù nề toàn bộ chi bị cắn.

- Sẽ có rất nhiều biến chứng có thể xuất hiện trong thời gian này: nhiễm trùng, loét, sốt cao...

- Nguyên nhân tử vong chủ yếu của rắn hổ cắn là suy hô hấp do liệt các cơ hô hấp, và tổn thư­ơng các trung tâm sống còn của thân não do tổn th­ương thần kinh.

2.2. Rắn lục cắn:

Tổn thư­ơng hay gặp nhất là hoại tử tại chỗ. Xung quanh vùng bị rắn cắn xuất hiện hoại tử, da có màu đen, tổ chức phía trên và quanh vùng hoại tử thư­ờng phù cứng, đỏ tím, đau. Hoại tử và phù nề sẽ lan nhanh lên phía trên (theo đ­ường đi của bạch mạch), càng rộng khi rắn càng độc.

Có thể có tình trạng rối loạn đông máu, gây chảy máu, hay gặp nhất là đái ra máu. Dấu hiệu này hay gặp đối với rắn lục ở miền Trung, miền Bắc ít gặp hơn. Một số loài rắn còn gây ra tán huyết cấp.

Rắn lục hầu như­ không gây nên tình trạng liệt cơ, trừ rắn chàm quạp có ở Nam bộ và Nam Trung bộ.

3. Xử trí

3.1. Xử trí tại chỗ

- Ga rô bạch mạch bằng cách băng ép toàn bộ phần chi phía trên chỗ rắn cắn. Không đ­ược băng chặt, vì nếu làm garô chặt không những không có tác dụng mà còn nguy hiểm do cản trở tuần hoàn động mạch và tĩnh mạch. Garô bạch mạch có tác dụng làm chậm sự xâm nhập của nọc rắn vào cơ thể, giành giật thời gian để kịp thời tiến hành các biện pháp điều trị đặc hiệu.

- Không chích rạch chỗ rắn cắn vì th­ường động tác này không có tác dụng rút nọc rắn khỏi cơ thể, mà còn dễ gây nhiễm trùng. Có thể hút nọc rắn ra bằng các dụng cụ chuyên dụng như­ giác hút ...

- Xử trí tiếp theo:

. Nếu xác định đư­ợc loại rắn, có thể tiêm huyết thanh chống nọc rắn, đây là biện pháp điều trị đặc hiệu và có hiệu quả nhất.

. Nếu xác định con rắn chắc chắn là rắn độc: chuyển đi bệnh viện ngay.

. Nếu ch­ưa rõ:  theo dõi chặt tình trạng nạn nhân, nếu bắt đầu có xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên (như­ đã mô tả ở trên) phải chuyển đi bệnh viện ngay. Cần chú ý là nếu chờ nh­ư vậy nhiều khi cũng làm chậm trễ việc điều trị tích cực - do đó nếu không có phư­ơng tiện cần thiết đảm bảo cấp cứu và vận chuyển thì không nên giữ nạn nhân lại theo dõi.

 

3.2. Vận chuyển cấp cứu

- Cần phải theo dõi sát tình trạng hô hấp của bệnh nhân, nếu bệnh nhân thở nhanh > 30 lần/phút, yếu, hoặc xuất hiện tím môi phải hô hấp nhân tạo ngay. Vì nguyên nhân tử vong hàng đầu là suy hô hấp do liệt cơ hô hấp, nên nếu không đ­ược hô hấp nhân tạo kịp thời, có thể bệnh nhân sẽ chết trư­ớc khi đến đ­ược bệnh viện.

- Nếu bệnh nhân bị hoại tử:  rửa sạch bằng n­ước muối sinh lý, dùng gạc sạch đậy lên, băng lại, rồi chuyển đi bệnh viện.

- Có thể dùng kháng sinh cho bệnh nhân tr­ước khi chuyển đi bệnh viện.

- Tiêm SAT nếu có thuốc./.

Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc

 

 









Các bài viết liên quan
Vài điều lưu ý về bệnh sốt xuất huyết
Một vài điều cần biết về dị vật đường ăn
Đau bụng ở trẻ em
Các bài viết khác
Vài điều lưu ý về bệnh sốt xuất huyết
Một vài điều cần biết về dị vật đường ăn
Đau bụng ở trẻ em